DI TÍCH TRƯỜNG LŨY
Di tích Trường Lũy Quảng Ngãi (được Bộ VH-TT&DL xếp hạng di tích cấp Quốc gia vào ngày 9.3.2011), đi qua các huyện Trà Bồng, Sơn Tịnh, Sơn Hà, Tư Nghĩa, Minh Long, Nghĩa Hành, Ba Tơ, Đức Phổ.
Trường Lũy được xây dựng bằng vật liệu khai thác tại chỗ như đất đồi, đất ruộng, đá tự nhiên với nhiều kỹ thuật đắp, đầm đất, xây, xếp đá... rất đặc trưng của cư dân miền đồng bằng ven chân núi và miền núi phía tây Quảng Ngãi. Do lũy dài và đi qua nhiều địa hình khác nhau, nên trên địa hình bằng phẳng, lũy được đắp bằng đất, còn ở sườn núi có độ dốc thì lũy được đắp cốt đất ở trong và ốp đá ở bên ngoài.
Theo sử liệu, vào khoảng giữa thế kỷ XVI, một vài đồn (bảo) ở miền Tây Quảng Ngãi được Bùi Tá Hán (1496 - 1568) cho xây dựng để nhằm kiểm soát giao thương và bình định vùng miền núi phía Tây của tỉnh Quảng Ngãi. Đến năm 1750, khi được cử làm Tuần vũ Quảng Ngãi, Nguyễn Cư Trinh cũng tiếp tục cho xây dựng một số đồn (bảo) khác trên vùng đất này.
Tuy nhiên, để có một Trường Lũy dài hàng trăm km, nối kết hàng trăm đồn (bảo) lại với nhau, hình thành một hệ thống đồn - lũy liên hoàn, chạy từ huyện Hà Đông tỉnh Quảng Nam đến phía Bắc phủ Bồng Sơn tỉnh Bình Định, phải nhờ đến công sức của hàng ngàn binh lính và nhân dân các dân tộc của tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, đặc biệt là nhân dân các dân tộc Kinh, H’rê ở Quảng Ngãi cùng nhau xây dựng vào năm 1819 dưới sự chỉ huy của Tả quan Lê Văn Duyệt (1764 - 1832), Theo các bộ chính sử của triều Nguyễn, như Đại Nam thực lục, Quốc triều chỉnh biên toát yếu, Đại Nam nhất thống chí, Đồng Khánh địa dư chí... thì Trường Lũy dài 117 dặm, 115 bảo, mỗi bảo có khoảng 10 lính canh gác, nhằm kiểm soát việc qua lại và giao thương giữa hai vùng.
Hiện nay, sau khi đi khảo sát và nghiên cứu toàn bộ tuyến lũy trong nhiều năm, các nhà nghiên cứu đã xác định được 127,4 km Trường Lũy. Trong đó, trên đất Quảng Ngãi có 113 km, trải dọc qua 08 huyện: Trà Bồng, Sơn Tịnh, Sơn Hà, Tư Nghĩa, Minh Long, Nghĩa Hành, Ba Tơ, Đức Phổ và còn lại khoảng hơn 70 đồn (bảo) còn tương đối nguyên vẹn; tiêu biểu như: Di tích Thiên Xuân, di tích Khánh Giang (xã Hành Tín Đông, huyện Nghĩa Hành); di tích Rùm Đồn (Rừng Đồn) và di tích Đèo Chim Hút (xã Hành Dũng, huyện Nghĩa Hành)... Một số đoạn lũy tiêu biểu, như các đoạn lũy ở xã Trà Sơn, Trà Xuân, Trà Bình (huyện Trà Bồng), Nghĩa Thắng, Nghĩa Thọ (huyện Tư Nghĩa), xã Hành Dũng (huyện Nghĩa Hành), xã Ba Động (huyện Ba Tơ)...
Bia Di tích Trường Lũy tại thôn Xuân Hòa, xã Hành Tín Đông (Nghĩa Hành)
Hầu hết là lũy, bảo xây hoàn toàn bằng đá. Độ cao trung bình của lũy là 2m, đáy trung bình 4m, bề mặt trung bình 1m. Các đồn (bảo) phần lớn hình chữ nhật có chiều dài mỗi cạnh phổ biến 25 đến 30 mét độ cao trung bình tường đồn 4m, đáy 5m, bề mặt trung bình 1m.
Ở những vị trí quan trọng về quân sự và kinh tế có những đồn lớn, có diện tích hàng chục héc ta như Thiên Xuân, Kim Thành…(huyện Nghĩa Hành). Dọc theo lũy còn có các con đường cổ, hào và có các chợ phiên nằm lân cận.
Vì vậy, theo các nhà khoa học, Trường Luỹ – đồn (bảo) không chỉ có chức năng bảo vệ mà còn có chức năng giao thương kinh tế, trao đổi văn hóa giữa miền xuôi và miền ngược. Qua nghiên cứu thực địa cũng cho thấy, Trường Luỹ không phải khép kín mà vẫn chừa nhiều cửa, đảm bảo giao lưu, buôn bán trao đổi hàng hoá từ lâu đời của nhân dân, góp phần ổn định đời sống của người dân và sự phát triển của kinh tế đất nước.
BBT